Hiếm muộn
Rối loạn di truyền trong vô sinh nam
Có nhiều bất thường về di truyền khiến cho quá trình sinh tinh ở nam giới cũng bất thường theo, và hậu quả là khả năng sinh sản của quý ông bị suy giảm.
Hiện nay vô sinh nam chiếm khoảng 35 – 40% nguyên nhân vô sinh, thường gặp nhất là bất thường tinh trùng như thiểu năng tinh trùng hay không có tinh trùng. Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 10 – 15% không tinh trùng và 5% thiểu năng tinh trùng có bất thường về di truyền.
Bất thường nhiễm sắc thể
Bất thường nhiễm sắc thể thường và giới tính ở đàn ông vô sinh cao gấp 6 lần và 15 lần so với dân số trong cộng đồng (Bhasin et al,. 2000). Thường gặp nhất là hội chứng Klinefelter chiếm 1/500 bé trai sinh ra từ người cha vô sinh (Bielanska et al,. 2000). Rối loạn nhiễm sắc thể giới tính 47,XXY hay một số dạng khác như thể khảm 47,XXY/46,XY; 48XXXY; 48 XXYY và 49,XXXXY. Biểu hiện lâm sàng thường tinh hoàn teo nhỏ, chắc, dáng người giống nữ và vú to. Định lượng nồng độ FSH tăng cao và thường không có tinh trùng. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân thể khảm, tinh hoàn vẫn sinh tinh nhưng thường là thiểu tinh nặng (Krausz và Forti, 2000).Sự chuyển đoạn giữa một số nhiễm sắc thể thường (như chuyển đoạn tương hỗ hay chuyển đoạn hoà nhập tâm) cũng thường gặp ở những người thiểu năng tinh trùng (Chandley, 1975 và De Braekeleer và Dao, 1991).
Một số rối loạn di truyền ảnh hưởng lên hoạt động của gonadotrophin
Vài rối loạn di truyền ảnh hưởng lên sự chế tiết và hoạt động của gonadotrophin làm giảm khả năng sinh sản ở nam giới.
Thường gặp nhất là hội chứng Kallman, suy hạ đồi và sinh dục, biểu hiện lâm sàng mất khứu giác và cơ quan sinh dục chậm phát triển (Kallman và cs., 1944). Hội chứng di truyền theo nhiễm sắc thể X, do đột biến trên đoạn gen KALIG-1 ở nhánh ngắn (Xp22.3) (Ballabio và cs., 1989; Hardelin và cs., 1993).
Một rối loạn di truyền khác là hội chứng Prader-Willi do tổn thương hoạt động của GnRH. Biểu hiện béo phì, chậm phát triển trí óc, cơ quan sinh dục teo nhỏ, tay chân ngắn, … (Cassidy và Schwartz, 1998). Hội chứng Prader-Willi xảy ra khi mất 1 đoạn gần nhánh dài của NST 15.
Những đột biến nhỏ trên nhiễm sắc thể Y
Năm 1976, phát hiện 6 trường hợp không có tinh trùng bị mất 1 đoạn lớn ở phần xa của nhánh dài nhiễm sắc thể Y qua phân tích karyotype và đưa ra giả thuyết quan trọng về đoạn AZF (Azoospermia factor). Khi di truyền phân tử phát triển, nhiều nghiên cứu đã phát hiện được những đột biến gen nhỏ trong đoạn AZF liên quan đến vô sinh do không có tinh trùng hay thiểu tinh nặng mà trước đây thường cho là thiểu năng tinh trùng không rõ nguyên nhân (Vogt và cs., 1992; Ma và cs., 1993). Bốn vùng gen trên đoạn AZF liên quan với sinh tinh trùng là AZFa, AZFb, AZFc, AZFd. Những đột biến gen xảy ra trong 4 vùng gen này thường dẫn đến những rối loạn trong quá trình sinh tinh như không sản xuất tinh trùng hay sản xuất tinh trùng rất ít. Do đó những trường hợp mật độ tinh trùng dưới 5 triệu mà không tìm ra nguyên nhân thì cần khảo sát di truyền phân tử.Nhờ di truyền phân tử, các nhà khoa học hiểu rõ hơn về mối liên quan giữa bệnh xơ nang; bệnh gồm những biểu hiện như bệnh lý phổi tắc nghẽn, thiếu hụt ngoại tiết tuyến tụy, rối loạn dạ dày ruột non …; và bất sản ống dẫn tinh 2 bên. Gen CFTR trên được tìm thấy trên nhánh dài của nhiễm sắc thể thứ 7 (Kerem và cs., 1989; Riordan và cs., 1989) có thể gây ra một trong hai rối loạn trên. Do đó nhiều giả thuyết cho rằng bất sản ống dẫn tinh 2 bên có thể là một dạng triệu chứng nhẹ của bệnh xơ nang hay biểu hiện bệnh xơ nang không hoàn toàn. Bệnh nhân vô sinh do bất sản ống dẫn tinh 2 bên vẫn có thể có con nhờ kỹ thuật PESA hay MESA ICSI. Tuy nhiên đứa trẻ sinh ra có thể bị bất sản ống dẫn tinh và bị vô sinh hay nặng hơn có thể bị bệnh xơ nang.
Kết luận
Bất thường nhiễm sắc thể cũng như các đột biến gen thường xuất hiện nhiều ở bệnh nhân vô sinh nam. Phương pháp điều trị vô sinh nam hiệu quả nhất cho đến hiện tại được thế giới công nhận là ICSI. Việc tầm soát di truyền ở những bệnh nhân ICSI, đặc biệt là không tinh trùng và thiểu năng tinh trùng nặng hết sức cần thiết. Khảo sát di truyền tế bào và di truyền phân tử không chỉ giúp chẩn đoán xác định nguyên nhân vô sinh mà còn giúp tư vấn di truyền cho người bệnh nên hay không nên mang thai cũng như những bệnh lý di truyền có thể gặp ở đứa trẻ sinh ra. Theo các bác sĩ, các trường hợp vô sinh nam có bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể thì thường phải được chẩn đoán nguy cơ di truyền cho thế hệ sau của họ.Theo S.K.Đ.S
Ghi nhớ
Bookmark
Chia sẻ
Lần xem: 1944
Bình luận
(0)







